Công bố khoa học

  • Lê Thị Hiền Cultivating students’ self - learning ability to study Ho Chi Minh’s thoughts
    Astract: Positive, modern, innorvations in teaching method have become on going and urgent requirements with a view to enhancing of teaching political theories in general and Ho Chi Minh’s toughts in particular. The articals clearly defines how to teach Ho Chi Minh’s thoughts subject in a positive, modern way centering on learners and improving the students’ self – learning ability.
  • Lê Thị Hiền và Lý Long Binh Dương promotes research and application of science and technology in building a smart city to sustainable development
    Abstract: Binh Duong is a key economic region in the South. This is a special city where the living standard and personal income are rated at the top of our country. Binh Duong is attracting a large number of workers all over the nation and foreign businesses to come and invest in many different fields. With the policy of building a smart city, the promotion of research and application of science and technology is also focused in order to shorten the time, synchronize and bring maximum benefits to people and businesses in socio-economic development.
  • Nguyễn Thị Kim Tuyến và Phạm Tuấn Anh Board characteristics, assurance auditing services role and earning management: Evidence from Vietnam
    Abstract: The study examines the effect of corporate governance and assurance auditing services on earnings management in the case of Vietnam. We investigate that higher earnings manipulation is ssociated with higher board meeting frequencies and CEO/board chair position separation. Moreover, the qualified assurance auditing service insignificantly negatively affects earnings management. This finding suggests that pre-eminent perspectives of corporate governance systems from developed economies may not be a good fit for emerging markets like Vietnam. Generally, our paper emphasises the importance of the Vietnam policymaker’s role in building effective monitoring mechanisms in the capital market by disciplining and supervising listed companies’ current corporate governance applications. In addition, it is essential that the quality of assurance auditing services need to be enhanced to improve the transparency level in the capital market.
  • An-Sing Chen và Phạm Tuấn Anh The firm`s asset volatility, effective tax rate and leverage effect: Evidence from Taiwan
    Abstract: This paper examines firms’ asset volatility across a broad cross-section of publicly traded Taiwanese listed nonfinancial firms and its relationship with effective tax rate and equity volatility under the capital structure framework. By analysing the leverage effect hypothesis of firms under the asymmetric diagonal VECH-GJR model, we find both equity volatility and asset volatility do not show the asymmetric effect. In the context of equity volatility dynamics, financial leverage turns from being negatively related to equity volatility to being positively related to equity volatility when the model adds asset volatility as a control variable. Moreover, lower equity volatility is found to be associated with higher effective tax rates.
  • Phạm Tuấn Anh và cộng sự Phân tích ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến ngành du lịch Việt Nam
    Tóm tắt: Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích dữ liệu thứ cấp để nghiên cứu về ảnh hưởng của dịch bệnh viêm phổi cấp tính COVID-19 tới ngành du lịch của Việt Nam. Bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngành du lịch đóng góp tích cực vào GDP của Việt Nam trước thời điểm xảy ra đại dịch. Tuy nhiên, ngành du lịch Việt Nam chịu nhiều kết quả bất lợi trên tất cả các thông số dưới tác động của đại dịch COVID-19 vào năm 2020, 2021. Từ đó, bài nghiên cứu khuyến nghị những chính sách nhằm khôi phục hoạt động của ngành du lịch cũng như ứng dụng chuyển đổi số trong du lịch để phù hợp với tình hình mới.
  • Huỳnh Kim Trọng và cộng sự Kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên khối ngành kinh tế tại Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương
    Tóm tắt: Nghiên cứu Nâng cao kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên khối ngành Kinh tế tại trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương với mục tiêu tổng quát là xác định các thành phần tác động đến kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên khối ngành Kinh tế tại trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương và đưa ra hàm ý quản trị nhằm nâng cao kỹ nâng làm việc nhóm đối với sinh viên. Dựa trên mô hình lý thuyết về kỹ năng làm việc nhóm, nghiên cứu kiến nghị mô hình giả thuyết gồm 9 thành phần tác động đến kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên khối ngành Kinh tế tại trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương. Thông qua nghiên cứu định tính và khảo sát 155 sinh viên các khóa để kiểm định mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu có 9 thành phần ảnh hưởng đến kỹ năng làm việc nhóm gồm: Nhận thức của sinh viên về hợp tác; Thái độ của sinh viên khi tham gia học tập nhóm; Các nét tính cách cá nhân; Trình độ của nhóm trưởng; Yêu cầu của bài tập nhóm; Hỗ trợ của giảng viên; Điều kiện học tập nhóm; Quy mô của nhóm; Mối quan hệ giữa các thành viên. Trong các thành phần có tác động đến kỹ năng làm việc nhóm thì thành phần Nhận thức của sinh viên về hợp tác có ảnh hưởng mạnh nhất và ảnh hưởng nhỏ nhất là thành phần Quy mô của nhóm.
  • Nguyễn Hoàng Chung, Trương Văn Cường, Hồ Đăng Huy Mô hình keynesian mới không có đường cong LM
    Tóm tắt: Những phát triển nghiên cứu gần đây cố gắng làm giảm đi vai trò của mô hình IS – LM (Investment – Saving/ Liquidity Preference - Money Supply) trong phân tích chính sách khi cố gắng thay thế vai trò của giá cả bằng mức lạm phát và sử dụng lãi suất như là công cụ đại diện cho hành động của Ngân hàng Trung Ương (NHTW) hơn là cung tiền. Mô hình đề xuất IS – MP – IA (Investment – Saving, Monetary Policy, Inflation Adjustment) được xem là có nhiều ưu điểm khi mô phỏng nền kinh tế với chức năng của lãi suất thực, giúp kiềm chế lạm phát nhưng đảm bảo mức tăng sản lượng của nền kinh tế. Mặc dù đây chưa phải là khuôn khổ thay thế hoàn hảo nhưng đã góp phần xây dựng mô hình phân tích chính sách trở nên thực tế và hợp lý hơn.
  • Nguyễn Thị Diễm Hiền và Trần Thanh Vũ Thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam: Thị trường đang rộng mở
    Tóm tắt: Thanh toán không dùng tiền mặt đã trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, Chính phủ đã có những động thái tích cực nhằm thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt như ban hành các quyết định phê duyệt Đề án nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế, phê duyệt Đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với các dịch vụ công… Về phía các tổ chức tín dụng cũng đang đẩy mạnh các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt với nhiều giải pháp khác nhau. Bài viết nhằm đánh giá thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam trong những năm gần đây cũng như đưa ra một số nhận định về khả năng phát triển thị trường thanh toán không dùng tiền mặt.
  • Nguyễn Đức Trung và Nguyễn Hoàng Chung Tác động của chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến sự ổn định tài chính tại Việt Nam - góc nhìn qua tăng trưởng tín dụng
    Tóm tắt: Bài nghiên cứu tập trung đánh giá các nhân tố tác động đến tăng trưởng tín dụng (TTTD) của 21 ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam trong giai đoạn 2008–2015. Bằng việc sử dụng kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng và phương pháp ước lượng hồi quy với sai số chuẩn (Regression with Driscoll-Kraay standard errors - D&K) để khắc phục hiện tượng tự tương quan, phương sai sai số thay đổi nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả, kết quả nghiên cứu cho thấy, các công cụ của chính sách tiền tệ (CSTT) tại Việt Nam có tác động mạnh hơn so với các công cụ của chính sách an toàn vĩ mô (ATVM) đến TTTD.
  • Trần Văn Biên, Nguyễn Thị Cẩm Phú Thực trạng môi trường khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học tại Bình Dương
    Tóm tắt: Phạm Hồng Quất, Phan Hoàng Lan, 2014 trong tạp chí khoa học công nghệ số 18, năm 2014, với “Hệ thống sinh thái cho doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam”. Tác giả chỉ ra các chủ thể đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái khởi nghiệp, đó là: Nhà đầu tư; cơ sở ươm tạo và tổ chức thúc đẩy kinh doanh; Cộng đồng doanh nghiệp khởi nghiệp và các sự kiện dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp; Sinh viên; doanh nghiệp khởi nghiệp dưới hình thức doanh nghiệp khoa học công nghệ và chủ thể Nhà nước. Nghiên cứu của tác giả này đã chỉ ra chủ thể nòng cốt là sinh viên – chủ thể khởi tạo ý tưởng và là người thực hiện các dự án khởi nghiệp các chủ thể khác là hỗ trợ để thúc đẩy phát triển. Để sinh viên có nhiều ý tưởng sáng tạo, nâng cao tình thần khởi nghiệp của sinh viên bằng nhiều hình thức, trong đó tổ chức nhiều các cuộc thi khởi nghiệp để các startup giao lưu, chia sẻ, hợp tác từ đó hình thành cộng đồng khởi nghiệp. Bên cạnh đó, tác giả nhấn mạnh đến vai trò Nhà nước trong việc tạo lập các trung tâm công nghệ như thung lũng Silicon tại Việt Nam (Vietnam Silicon Valley – VSV). Đó là lý do tác giả chọn đề tài Thực trạng môi trường khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học tại Bình Dương.